• Thông báo lịch xét tuyển, nội dung xét tuyển và gợi ý nội dung tài liệu tham khảo kỳ xét tuyển viên chức 2014 • Công bố và trao Quyết định bổ nhiệm một số Lãnh đạo cấp Vụ • Về việc tuyển dụng viên chức Viện Khoa học pháp lý • Ưu tiên ban hành các luật về quyền con người • Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và công nghệ • Quán triệt triển khai công tác cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan Bộ Tư pháp • Thư chúc mừng năm mới 2014 của Bộ trưởng Hà Hùng Cường • NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ NĂM 2013 • Chúc mừng năm mới 2014 - Giáp Ngọ • Hội thảo “Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và định hướng hoàn thiện”

Thăm dò ý kiến

 



Thống kê

  • Tổng số khách truy cập:   932440
  • Lượt xem hôm nay:   342
  • Khái niệm quyền công dân
    undefined undefined undefined undefined undefined undefined undefined undefined

    QUYỀN CÔNG DÂN VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI QUYỀN CON NGƯỜI

    Trương Hồng Quang

    Khái niệm quyền công dân

    Khái niệm về quyền công dân cũng ra đời từ lâu trong lịch sử, được sử dụng rông rãi trong xã hộiluận văn - báo cáo - tiểu luận - tài liệu chuyên ngành Xã hội tư sản. Trong sách báo pháp lý, khái niệm “quyền công dân” là khái niệm cùng hàng với khái niệm quyền con người. So với khái niệm quyền con người, khái niệm quyền công dân mang tính xác định hơn, gắn liền với mỗi quốc gia, được pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Và do gắn với đặc thù của mỗi quốc gia mà nội dung, số lượng, chất lượng của quyền công dân ở mỗi quốc gia thường không giống nhau. Tuy nhiên, không có sự đối lập giữa quyền con người và quyền công dân trong quy định của các nước.

    Thực ra, khái niệm quyền công dân không phải dùng để chỉ các quyền cụ thể của công dân là quyền nào mà là khái niệm có tính chất là tiêu chí đánh giá, hàm ý chỉ rằng nhà nước đã ghi nhận và bảo đảm cho công dân, quyền con người như thế nào trong các quyền và trong các nghĩa vụ cụ thể của công dân. Tính cụ thể của khái niệm chỉ là chỗ nó không tồn tại độc lập như khái niệm quyền con người mà phải gắn với các quy định của pháp luật, phải qua việc xem các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của một hệ thống pháp luật như thế đã phản ánh quyền công dân như thế nào. Thông qua quyền công dân trong một hệ thống pháp luật, người ta có thể biết nó đã thể hiện quyền con người như thế nào. Quyền công dân khác với khái niệm “quyền cơ bản” của công dân được ghi nhận trong các bản hiến pháp, nó mang tính chất cụ thể chỉ các lợi ích cơ bản mà pháp luật ghi nhận cho công dân. Cần nhấn mạnh rằng “quyền cơ bản của công dân” là quyền được thể hiện trong các quy định cụ thể cho cả quyền và cả nghĩa vụ cơ bản cho/đối với công dân. Và, quyền con người bản thân nó không có tính pháp lý, còn quyền công dân thì lại có tính chất ấy. Trên cơ sở quan niệm như vậy, chúng ta xem xét sự giống và khác nhau giữa các khái niệm “quyền con người” và “quyền công dân”.

    Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân

    Trước hết nói về những điểm khác nhau. Khái niệm quyền con người xét về nguồn gốc tự nhiên là quyền của tất cả các cá nhân, không liên quan đến việc nó có được ghi nhận trong pháp luật một nhà nước cụ thể nào không. Trái lại, khái niệm quyền công dân lại là các quyền được thể hiện trong pháp luật của một nước ghi nhận (dưới dạng là các quyền và nghĩa vụ cụ thể) và đảm bảo thực hiện trong một nhà nước cụ thể. Nội hàm của khái niệm “quyền con người” rộng hơn khái niệm “quyền công dân”, hay nói cách khác, “quyền công dân” không thể bao quát hết được “quyền con người”.

    Thứ hai là sự khác nhau xét về mặt chủ thể. Chủ thể của quyền con người là mỗi con người mà ngay từ khi họ được sinh ra thì tạo hoá đã ban cho họ cái mà được gọi là quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, còn chủ thể của quyền công dân có thể là “các cá nhân đặt trong mối quan hệ với nhà nước, dựa trên tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi cá nhân được nhà nước đó quy định tạo nên địa vị pháp lý của công dân”[1]. Mặc dù chủ thể của quyền công dân được hiểu là các cá nhân đặt trong quan hệ với nhà nước, được thể hiện trong tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi cá nhân được nhà nước đó quy định, nhưng không thể nói quyền con người là quyền cá nhân tự do, còn quyền công dân chỉ có tính chất quốc gia. Đối với những chủ thể mặc dù không phải là công dân (không phải là công dân nước sở tại hoặc không mang quốc tịch của một nhà nước nào) thì họ vẫn có được những quyền hạn chế của công dân hoặc phải thực thi những nghĩa vụ cũng hạn chế của công dân đối với xã hội, nhà nước nơi họ sinh sống, cư trú.

     Tuy là những khái niệm không thể đồng nhất với nhau, nhưng “quyền con người” và  “quyền công dân” lại là các khái niệm có sự thống nhất. Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ, trong mỗi quốc gia, quyền công dân trong nội dung là sự thể hiện cụ thể của quyền con người, khó có thể phân định một cách thật sự rạch ròi quyền con người, quyền công dân theo quan điểm quyền con người là quyền tự nhiên, quyền công dân là do pháp luật quy định; hay quyền con người là do luật quốc tế quy định, quyền công dân là do pháp luật quốc gia quy định. Việc nhận thức giá trị và bản chất của quyền con người có vai trò quyết định trực tiếp trong việc xây dựng các quy chế pháp lý về quyền công dân trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền công dân chính là đã thực hiện nội dung cơ bản của quyền con người.

    Tính thống nhất và gắn kết giữa quyền con người và quyền công dân được thể hiện ngay trong văn kiện quốc tế đặc biệt quan trọng là Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và các Công ước quốc tế về quyền con người, theo đó, quyền con người là nhân phẩm, các nhu cầu (về vật chất và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ của con người được thể chế hoá trong các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia[2]. Còn quyền công dân phản ánh, thể hiện là quyền con người, là những giá trị gắn liền với một nhà nước nhất định và được nhà nước đó bảo đảm thực hiện bằng pháp luật dựa trên mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể[3]. Để trở thành công dân của một nước, các cá nhân bao giờ cũng phải có quốc tịch của nước đó. Tư cách công dân mang đến cho cá nhân một địa vị pháp lý đặc biệt trong quan hệ với nước mà họ mang quốc tịch. Đó chính là tất cả các quyền và nghĩa vụ của công dân. Các quyền và nghĩa vụ này tồn tại đối với công dân trong quan hệ với nhà nước mà họ mang quốc tịch, ngay cả trong trường hợp họ sống ở nước ngoài. Những người không phải là công dân (người không có quốc tịch, người nước ngoài) có thể sẽ không có được hoặc chỉ có các quyền, nghĩa vụ của nước sở tại ở mức độ hạn chế. Một số quyền, nghĩa vụ mà họ sẽ không được hưởng như: quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, tham gia nghĩa vụ quân sự và xây dựng quốc phòng toàn dân...Dựa trên những điều kiện cụ thể của mình mà nhà nước quy định cho công dân những quyền và phải thực hiện những nghiã vụ nhất định. Nhưng bất luận thế nào thì các quyền và nghĩa vụ này cũng nói lên một điều rằng, quyền công dân cũng như quyền con người đã được ghi nhận và bảo đảm như thế nào, tiến bộ hay lạc hậu.  

    Trong khoa học pháp lý, toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của công dân, được chia ra làm hai loại: các quyền và nghĩa vụ cơ bản và các quyền và nghĩa vụ không cơ bản. Và quyền và nghĩa vụ được quy định trong hiến pháp của các nước được quan niệm là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nó chỉ là một bộ phận của quyền và nghĩa vụ của công dân, nhưng là bộ phận cơ bản có ý nghĩa thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của họ.

    Trong các nhà nước văn minh, tiến bộ thì theo bản chất của nó, giữa quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân có sự thống nhất, thể hiện ở chỗ đối với mỗi công dân, quyền không tách dời nghĩa vụ, không ai có thể có đặc quyền, đặc lợi mà không thực hiện nghĩa vụ tương ứng nào.



    [1]Trần Văn Bách, Luận án tiến sĩ “Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam”, Viện Nhà nước và pháp luật, 2002, tr.21-22.

    [2]Xem thêm Võ Khánh Vinh (chủ biên), Quyền con người Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Nxb Khoa học xã hội, 2009, tr.19.

    [3]Trần Văn Bách, Luận án tiến sĩ “Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam”, Viện Nhà nước và pháp luật, 2002, tr.20.



    In bài này